TRANG CHỦ | TIN CÔNG NGHỆ

Giải pháp phát triển nhân lực ATTT tại Việt Nam

Cập nhật: 20:55 24/05/2021


Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia hiện nay, để biến các cơ hội thành hiện thực, mang lại hiệu quả thì việc ứng dụng công nghệ số bắt buộc phải song hành với an toàn thông tin mạng (ATTT). Đối với ATTT, bên cạnh các yếu tố về chính sách, yếu tố về hạ tầng công nghệ thì yếu tố con người có vai trò quyết định.

Các cuộc tấn công mạng có xu hướng tập trung vào yếu tố con người thay vì máy móc, thiết bị, theo ước tính 91% các cuộc tấn công thành công vào các tổ chức, doanh nghiệp bắt đầu với một cuộc tấn công lừa đảo. Nhân lực ATTT gồm nhân lực sử dụng và nhân lực chuyên nghiệp. Trong khi nhân lực sử dụng chủ yếu tham gia ở khâu phòng, tránh các nguy cơ mất ATTT thì nhân lực chuyên nghiệp là nòng cốt để phòng, chống và xử lý các tình huống mất ATTT có thể xảy ra. Bài viết đi sâu đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực ATTT hiện nay, phân tích một số thuận lợi - khó khăn và nguyên nhân, kinh nghiệm quốc tế rút ra để từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ATTT ở nước ta trong giai đoạn 2021-2025.

Kết quả đào tạo nhân lực ATTT thời gian qua 

Trong xã hội, nhằm tuyên truyền nâng cao nhận thức, kỹ năng cho người dân về ATTT, Bộ TTTT đã chủ trì xây dựng và xuất bản cẩm nang ATTT và sổ tay ATTT cho cán bộ, công chức, viên chức gửi tới tất cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức liên quan. Đồng thời phát hành các bản tin ATTT hàng tháng (gồm các bản in và đăng tải trên mạng), tính đến nay đã có khoảng 38.000 cuốn được in, đem tới cho độc giả những thông tin về tình hình ATTT, các thông tin cảnh báo, chia sẻ kỹ năng bảo đảm ATTT. Hơn 70.000 tờ rơi, tờ gấp, áp phích tuyên truyền về ATTT được phát hành. Các bài viết nghiên cứu, chuyên đề, tin bài, ảnh, video clip và các cuộc tọa đàm trực tuyến được triển khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, trang báo điện tử, thu hút được hơn 50 triệu số lượng đọc giả quan tâm, tạo hiệu ứng lan tỏa trong toàn xã hội.

 

Trong khối cơ quan nhà nước, Bộ TTTT phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn cho cán bộ chuyên trách ATTT. Các khóa đào tạo ngắn hạn được tổ chức dưới các hình thức trực tuyến và trực tiếp kết hợp, theo chương trình trong nước và theo chương trình quốc tế cho các nhóm đối tượng là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật. Đến nay đã đào tạo cho khoảng 6.600 lượt cán bộ làm về ATTTT tại các cơ quan, tổ chức nhà nước; đồng thời đã huy động nguồn lực xã hội hóa để đào tạo, tập huấn hỗ trợ cho các Bộ, ngành, địa phương được trên 1.000 lượt cán bộ làm về ATTT. Bản thân mỗi Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp nhận thấy tầm quan trọng của nhân lực ATTT cũng đã chủ động tổ chức hàng loạt các khóa đào tạo ngắn hạn cho các cán bộ liên quan theo nhu cầu và đòi hỏi của thực tế đặt ra.

Trong trường học, nội dung về kiến thức, kỹ năng ATTT được dạy trong các môn Tin học, môn Giáo dục công dân, môn Giáo dục quốc phòng và an ninh và lồng ghép vào các môn học khác trong chương trình. Bên cạnh các hoạt động chính khóa, các hoạt động ngoại khóa bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng ATTT cho học sinh được triển khai có hiệu quả tốt. Dự án "Tăng cường kỹ năng CNTT cho giới trẻ hội nhập và phát triển – YouthSpark Digital Inclusion" từ năm 2016 đã khảo sát, xây dựng tài liệu và tổ chức triển khai giảng dạy thí điểm chương trình ngoại khóa tin học cho học sinh phổ thông các vùng khó khăn. Đến nay, đã đưa vào giảng dạy ngoại khóa thí điểm nội dung mạng xã hội và các ứng dụng Internet, an toàn sử dụng Internet cho hơn 50.000 học sinh tại hơn 400 trường trung học cơ sở, phổ thông dân tộc nội trú ở các khu vực khó khăn tại 12 tỉnh, thành phố trên cả nước. Nhiều hoạt động khác như tổ chức các tọa đàm an toàn sử dụng Internet, giải thưởng nữ sinh CNTT, giờ lập trình, diễn đàn sáng tạo... cũng đã được tổ chức, lồng ghép các nội dung nâng cao nhận thức, kỹ năng về ATTT cho học sinh các nhà trường và từ đó lan tỏa ra cộng đồng.

Ở bậc đại học, đến nay có khoảng 20 cơ sở đào tạo trong toàn quốc được cấp mã ngành 7.480.202 đào tạo kỹ sư, cử nhân ATTT. Trong giai đoạn 2014-2019 có khoảng 1600 kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ về ATTT tốt nghiệp, trong đó có khoảng 31 kỹ sư, cử nhân tốt nghiệp loại Giỏi và 562 kỹ sư, cử nhân tốt nghiệp loại Khá. Cuộc thi Quốc gia "Sinh viên với An toàn thông tin" do Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA) và Bộ GDĐT tổ chức thường niên trong 13 năm liên tục đã thu hút ngày càng đông đảo các nhà trường, sinh viên tham gia. Cuộc thi này góp phần quan trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phát hiện và tôn vinh tài năng trẻ, đẩy mạnh phong trào học tập, nghiên cứu, tăng cường trao đổi giữa sinh viên ngành An toàn thông tin (ATTT) các trường đại học, học viện trong cả nước. Từ năm 2019, Cuộc thi được mở rộng ra khu vực ASEAN với sự góp mặt của các đội đại diện các nước ASEAN tại vòng chung kết. Bên cạnh đó, các cuộc thi Olympic Tin học sinh viên/Lập trình viên quốc tế ICPC do Hội Tin học chủ trì tổ chức thường niên), hội thi Tin học trẻ toàn quốc của Trung ương Đoàn TNCSHCM, cuộc thi giáo viên sáng tạo trên nền tảng CNTT... tạo phong trào học tập CNTT nói chung và ATTT nói riêng sôi nổi trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.

Hệ thống trung tâm Ngoại ngữ - Tin học, trung tâm Tin học với khoảng 5.000 trung tâm trên khắp các tỉnh thành trên cả nước đã góp phần đào tạo, cập nhật kiến thức kỹ năng ATTT cho đa dạng mọi đối tượng người học, kể cả những người đã học xong ra nghề. Đào tạo ngắn hạn giúp cập nhật liên tục được công nghệ mới của thế giới một cách nhanh chóng; bổ sung điểm yếu về ngoại ngữ, kỹ năng mềm, kỹ năng làm việc thực tế còn thiếu trong nhà trường; phù hợp với mọi đối tượng, với mọi thời gian kể cả người đang đi làm; và linh hoạt áp dụng được các mô hình đào tạo mới, mô hình khóa học đảo ngược. Tuy nhiên vấn đề quản lý nhà nước, đảm bảo chất lượng đối với các khóa học ngắn hạn cần được quan tâm giải quyết.

Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong đào tạo nhân lực ATTT

Việc nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng ATTT trong xã hội vẫn chưa đa dạng hóa cách thức tiếp cận, thiếu những sản phẩm tuyên truyền hiện đại, có dấu ấn; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa đồng bộ; nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vẫn còn xem nhẹ, chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của việc trang bị kiến thức, kỹ năng ATTT, chưa bố trí kinh phí đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. 

Ở khối các CQNN, việc bồi dưỡng kỹ năng ATTT, đào tạo nhân lực ATTT chuyên nghiệp chưa được quan tâm đúng mức. Một trong số các nguyên nhân là do nguồn ngân sách hạn hẹp, không bố trí được thời gian tham gia đào tạo vì cán bộ phụ trách ATTT thường kiêm nhiệm.

Trong các nhà trường, nhu cầu cần khoảng 13.600 giáo viên Tin học, ở cấp tiểu học hiện thiếu khoảng 6.000 giáo viên để đáp ứng yêu cầu chương trình mới khi môn Tin học sẽ trở thành bắt buộc từ lớp 3 từ năm học 2022-2023 tới đây. Nguyên nhân một phần là do không có chỉ tiêu biên chế, nguồn tuyển dụng đòi hỏi ứng viên vừa có trình độ Tin học vừa có trình độ sư phạm rất hạn chế, thu nhập thấp không ổn định, chênh lệch quá nhiều so với mức thu nhập ở các doanh nghiệp CNTT.

Giảng viên dạy ATTT cũng là vấn đề đối với các trường đại học, thiếu giảng viên, giảng viên không được cập nhật công nghệ mới, yếu năng lực nghiên cứu và ngoại ngữ, thiếu kinh nghiệm thực tế, thực hành. Mặc dù hiện đã có một số đề án ưu tiên đưa giảng viên, nghiên cứu viên đi đào tạo ở trong và ngoài nước, nhưng thủ tục còn rườm rà, thiếu khả thi, học bổng thấp, hiệu quả chưa cao. Số lượng giảng viên, nghiên cứu viên nộp hồ sơ chuyên ngành ATTT đáp ứng được điều kiện về ngoại ngữ để cử đi học nước ngoài tương đối khiêm tốn. Số lượng giảng viên, nghiên cứu viên được cử đi học thạc sĩ thấp là do phần lớn giảng viên, nghiên cứu viên của các cơ sở đào tạo thường đều đã có trình độ thạc sĩ, nguồn tuyển rất hạn chế.

Về phía người học, chưa thu hút được sinh viên vào học ATTT nhất là sinh viên giỏi(thực tế cho thấy số lượng tuyển sinh vào hệ tài năng, hệ chất lượng cao còn rất  khiêm tốn); nhiều sinh viên và gia đình chưa hiểu rõ về tiềm năng nên không chọn theo học ATTT, thay vào đó lựa chọn một số ngành khác học dễ hơn nhưng cho thu nhập cao hơn. Một phần nguyên nhân cũng là do ATTT là nội dung khó, để trở thành kỹ sư, cử nhân chất lượng cao thì học viên cần có năng lực và nền tảng kiến thức tốt. Một phần khác là do nội dung đào tạo còn chưa sát theo yêu cầu thị trường, sinh viên ra trường yếu về ngoại ngữ, kỹ năng mềm và kỹ năng làm việc thực tế.

Giáo trình, tài liệu giảng dạy ATTT còn thiếu, chưa được cập nhật thường xuyên trong khi các kỹ thuật tấn công mạng liên tục thay đổi, ngày càng tinh vi và nguy hiểm hơn. Mặc dù đã có chủ trương cập nhật, mua giáo trình mới nhất từ nước ngoài, chia sẻ dùng chung nhưng việc này triển khai chậm, một phần nguyên nhân là do chưa thống nhất được cơ chế phối hợp và chưa bố trí đủ kinh phí đầu tư tương xứng. Trong khi đó sinh viên còn yếu về ngoại ngữ nên khả năng nghiên cứu tài liệu nước ngoài chưa tốt. Chương trình giáo dục phổ thông mới môn Tin học đã được ban hành nhưng tài liệu dạy Tin học chưa kịp cập nhật, chưa có chuẩn năng lực ATTT cho học sinh phổ thông.

Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm dạy ATTT còn thiếu, thậm chí học sinh có nơi không có đủ máy tính để thực hành; sinh viên ATTT thiếu phòng Lab đạt chất lượng để thực hành; chưa có thư viện điện tử, kết nối với các thư viện trong và ngoài nước cho sinh viên tìm kiếm tài liệu học tập, nghiên cứu.

Phương thức đào tạo ATTT vẫn còn thiếu sự tương tác giữa người học và người dạy; học trực tuyến chưa được áp dụng và phát huy hiệu quả. Việc thực tập vẫn còn hiện tượng hình thức, hiệu quả chưa cao.

Việc đào tạo ngắn hạn ATTT tại các Trung tâm Tin học, trung tâm CNTT và các doanh nghiệp đào tạo chưa thực sự đi vào nề nếp, chưa được quản lý chặt chẽ về nội dung đào tạo, chứng chỉ đào tạo, người học bị nhiễu giữa thông tin quảng cáo và chất lượng thực tế. Cơ sở đào tạo và số lượng, chủng loại các chứng chỉ quốc tế về ATTT khá đa dạng, nhiều chứng chỉ được cung cấp bởi một số hãng công nghệ nước ngoài dẫn đến tình trạng độc quyền và lệ thuộc vào một số dòng sản phẩm nhất định.

Kinh nghiệm quốc tế rút ra cho Việt Nam

Thúc đẩy nâng cao kiến thức, kỹ năng ATTT trong xã hội, Nhật Bản xây dựng Kế hoạch 3 năm lần thứ 4 (2018 - 2020) tập trung vào giới trẻ, học sinh, sinh viên trong các nhà trường. Malaysia xây dựng kế hoạch nâng cao nhận thức, kỹ năng ATTT cho người dùng Internet, đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên và phụ huynh; gắn trách nhiệm cụ thể cho các bên liên quan.

Singapore hàng năm tổ chức các chiến dịch nâng cao nhận thức, kỹ năng ATTT cho Chính phủ, doanh nghiệp và người dùng cá nhân. Trong chiến dịch, các chương trình biểu diễn lưu động được tổ chức và quảng bá trên các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội hay trên báo chí với sự tham gia của đa dạng các thành phần từ các doanh nghiệp viễn thông, người nổi tiếng... Bên cạnh đó, các cuộc thi tìm hiểu, trò chơi giúp nâng cao nhận thức, kỹ năng ATTT cũng được tăng cường tổ chức.

Các nước có trình độ phát triển nhân lực ATTT cao trên thế giới như Mỹ, Đức, Ấn Độ triển khai nhiều chính sách, biện pháp phát triển nguồn nhân lực ATTT hiệu quả, cụ thể như:

(i) Kết hợp giữa phát triển nhân lực nội địa và thu hút nhân lực nước ngoài;

(ii) Xã hội hóa công tác đào tạo nhân lực ATTT, huy động các nguồn lực xã hội cùng NSNN nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, chú trọng đào tạo đạo đức nghề nghiệp ATTT;

(iii) Đào tạo theo yêu cầu của thị trường bằng cách xây dựng và triển khai cơ chế hợp tác giữa đào tạo và sử dụng, phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong tất cả các khâu của quá trình đào tạo;

(iv) Áp dụng các chính sách đãi ngộ, khuyến khích bằng cả vật chất và cơ chế như tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, tôn vinh nhằm thu hút và giữ chân chuyên gia ATTT, tránh tình trạng chảy máu chất xám ra nước ngoài;

(v) Xây dựng một số mô hình đào tạo mẫu chất lượng cao bằng cách tập trung đầu tư, hợp tác với các nước phát triển về ATTT để từ đó nhân rộng ra cả nước;

(vi) Có chính sách thu hút các chuyên gia ATTT giỏi ở các quốc gia khác đến làm việc như tạo điều kiện nhập cư, thu nhập hấp dẫn. Đặc biệt, chính sách thu hút và huy động lực lượng chuyên gia ATTT là kiều bào đang công tác tại nước ngoài về xây dựng quê hương, là đầu mối giới thiệu và lôi kéo các chuyên gia khác cùng về nước làm việc.

Một số giải pháp thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực ATTT thời gian tới

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, ngày càng nhiều hệ thống thông tin được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt thì nhân lực ATTT càng cần phải được quan tâm, ưu tiên đầu tư. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích các hạn chế, nguyên nhân và bài học quốc tế, bài viết đề xuất một số nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực ATTT nước ta giai đoạn 2021-2025 cụ thể như sau:

 

Một là, tăng cường nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng ATTT cho người dân và toàn xã hội chú trọng các giải pháp sau:

(i) Tập trung tuyên truyền trên các mạng xã hội để tiếp cận một lượng lớn người sử dụng, thông qua việc Thiết lập và phát triển các trang (tài khoản/kênh) trên các nền tảng mạng xã hội và Sản xuất các nội dung tin bài, ảnh, video, clip viral,... để đăng, phát trên các trang mạng xã hội;

(ii) Đẩy mạnh việc tuyên truyền các kỹ năng cơ bản bởi vì với mỗi người sử dụng ngoài việc nhận thức được các mối đe dọa trên không gian mạng thì điều cần thiết là trang bị các kiến thức, kỹ năng cơ bản để sử dụng các thiết bị, ứng dụng ngày càng thông minh hơn và cũng tiềm ẩn nguy cơ lớn hơn.

Hai là, tiến hành khảo sát cung - cầu nhân lực ATTT bằng sự hỗ trợ của các ứng dụng CNTT, công cụ số. Từ số liệu khảo sát sẽ phác họa được bức tranh tổng thể về cung - cầu nhân lực ATTT, đánh giá chính xác thực trạng, dự báo nhu cầu nhân lực ATTT theo từng phân khúc thị trường, từng nhóm chuyên ngành cụ thể; đánh giá được thực trạng, năng lực đào tạo cả về chất lượng và số lượng của các cơ sở đào tạo; nhìn thấy sự dịch chuyển lao động ATTT giữa các quốc gia với Việt Nam, đặc biệt là các quốc gia trong khối ASEAN. Trên cơ sở kết quả khảo sát, cơ quan QLNN xây dựng chính sách điều tiết hợp lý; nhà trường có kế hoạch đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế.

Ba là, triển khai đào tạo ngắn hạn về ATTT tập trung, trực tuyến kết hợp trực tiếp cho các cơ quan QLNN; lựa chọn hỗ trợ đào tạo một số chuyên gia ATTT nòng cốt cho các Bộ, ngành, địa phương; ban hành chuẩn kỹ năng ATTT cho cán bộ chuyên trách ATTT; đưa nội dung ATTT vào chương trình bồi dưỡng, thi nâng ngạch/bậc công chức, viên chức; phân cấp, giao nhiệm vụ đến mỗi Bộ, ngành, địa phương chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai đào tạo ATTT cho các bộ, công chức, viên chức, người lao động của mình.

Có chế độ đãi ngộ cho cán bộ làm ATTT, nhân lực ATTT trong cơ quan nhà nước (CQNN); cần được quan tâm vinh danh, trả lương xứng đáng, có chính sách ưu đãi tương xứng. Trong CQNN cần xây dựng chức danh ATTT riêng để có chính danh và có chế độ đãi ngộ phù hợp, có thể cạnh tranh với khu vực tư, vừa thu hút nhân lực giỏi vừa giữ vững được đội ngũ; có chính sách khuyến khích du học sinh, Việt kiều nước ngoài về làm việc, giới thiệu nhân lực về nước làm việc.

Bốn là, tổng kết kết quả áp dụng cơ chế đặc thù đối với đào tạo nhân lực ATTT trình độ đại học theo nội dung văn bản số 5444/BGDĐT-GDĐH để hoàn thiện, áp dụng cho giai đoạn tiếp theo. Trong đó chú trọng các giải pháp như:

(i) Cho phép các trường tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh, mở rộng nguồn tuyển sinh các ngành ATTT. Lấy tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của sinh viên ATTT tốt nghiệp làm căn cứ xác định chỉ tiêu;

(ii) Cho phép sinh viên đang học đại học năm thứ 1, 2 hoặc 3 các ngành khác được chuyển sang học ngành ATTT tại các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo ATTT;

(iii) Điều chỉnh quy chế, tiêu chí giảng viên cơ hữu, giảng viên thỉnh giảng, giảng viên thực hành, tỉ lệ sinh viên/giảng viên theo hướng hỗ trợ mở rộng quy mô đào tạo, tăng cường chuyên gia từ DN tham gia giảng dạy ATTT;

(iv) Công nhận một số học phần từ các khóa đào tạo chứng chỉ kỹ thuật viên ATTT tương đương với một số môn học, tín chỉ trong chương trình đào tạo đại học ATTT;

(v) Tổ chức đào tạo sinh viên ATTT tại nhà trường kết hợp với làm việc thực tế tại doanh nghiệp (đảm bảo 30%);

(vi) Tăng cường đào tạo ATTT bằng hình thức đào tạo trực tuyến qua mạng, triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến và tài nguyên số dùng chung;

(vii) Nhà trường và doanh nghiệp ATTT phối hợp dự báo nhu cầu số lượng, yêu cầu chất lượng; doanh nghiệp đặt hàng đào tạo theo yêu cầu thực tế của thị trường và tham gia xây dựng chuẩn kiến thức, kỹ năng đầu ra; doanh nghiệp cung cấp địa điểm dạy thực hành, làm việc thực tế cho cơ sở đào tạo để nâng cao kỹ năng thực hành, ứng dụng thực tiễn cho sinh viên.

Năm là, ưu tiên đào tạo giảng viên, nghiên cứu viên về ATTT ở nước ngoài từ nguồn NSNN, nguồn hiệp định song phương và đa phương; triển khai các phương thức dạy học tích cực, các khóa học trực tuyến và ứng dụng công nghệ, tăng cường khả năng tương tác của người học ATTT.

Sáu là, các địa phương rà soát cụ thể số lượng giáo viên dạy Tin học để có giải pháp ưu tiên bố trí biên chế, đặt hàng đào tạo và cam kết tuyển dụng sau khi tốt nghiệp; tăng cường đầu tư từ NSNN và huy động các nguồn lực xã hội hóa trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm phục vụ dạy-học ATTT.

Bảy là, Chính phủ cần có chính sách xã hội hóa, quy hoạch và phát triển các cơ sở đào tạo ngắn hạn, cập nhật kiến thức, kỹ năng ATTT cho người sử dụng và cả cho đối tượng làm nghề chuyên nghiệp; khuyến khích xã hội hóa đào tạo ATTT ngắn hạn nhưng cần quản lý chặt chẽ, chú trọng khâu báo cáo, kiểm tra, giám sát để hạn chế tình trạng cấp chứng chỉ ATTT tràn lan.

Tám là, cập nhật và triển khai áp dụng chuẩn kiến thức, kỹ năng ATTT chuyên nghiệp và cho người sử dụng làm thước đo chung để các bên tham gia thị trường nhân lực cùng thống nhất sử dụng, là cầu nối giữa cung và cầu nhân lực ATTT; triển khai hệ thống đánh giá cấp chứng chỉ ATTT trực tuyến đảm bảo đề thi công bằng, thuận tiện cho khắp các vùng miền, tiết kiệm chi phí đi lại, chi phí tổ chức thi (các chuẩn kiến thức kỹ năng ATTT ban hành theo Thông tư 03/2014/TT-BTTTT và Thông tư 11/2015/TT- BTTTT hiện đã lạc hậu và chưa được triển khai áp dụng trong thực tế).

Chín là, xây dựng CSDL chuyên gia ATTT và hệ thống danh bạ các chuyên gia trong lĩnh vực ATTT, tạo diễn đàn trao đổi thông tin, làm cầu nối kết nối, tìm kiếm hợp tác giữa các chuyên gia trong nước và nước ngoài; kết nối cung - cầu nhân lực ATTT giữa các bên liên quan.

Mười là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tôn vinh trao giải thưởng cho những cá nhân xuất sắc những tấm gương thành đạt trong lĩnh vực ATTT nhằm thu hút sự quan tâm, đầu tư cho đào tạo nhân lực ATTT và theo học ATTT.

Trên đây bài viết đã tổng kết kết quả phát triển nhân lực ATTT thời gian qua, phân tích một số hạn chế và nguyên nhân, tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy nguồn nhân lực ATTT trong thời gian tới, giai đoạn 2021-2025. Các giải pháp tổng thể đề xuất trên cần được tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa để triển khai hiệu quả và đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị liên quan một cách phù hợp.

Tài liệu tham khảo:

1. Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT, Thông tư 46/2020/TT-BGDĐT, Thông tư 05/2020/TT-BGDĐT; Thông tư 03/2014/TT-BTTTT; Thông tư 11/2015/TT-BTTTT.

2. Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 07 tháng 6 năm 2019 về việc tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh mạng nhằm cải thiện chỉ số xếp hạng của Việt Nam.

3. Quyết định 05/2017/QĐ-TTg ngày 16/3/2017 ban hành quy định về hệ thống phương án ứng cứu khẩn cấp bảo đảm an toàn thông tin mạng quốc gia; Quyết định 1907/QĐ-TTg ngày 23/11/2020 phê duyệt Đề án "Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và phổ biến kiến thức về ATTT giai đoạn 2021-2025"; Quyết định 21/QĐ-TTg ngày 06/01/2021 phê duyệt Đề án "Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ATTT giai đoạn 2021-2025"

4. Văn bản số 5444/BGDĐT-GDĐH ngày 16/11/2017 về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực CNTT trình độ đại học.

5. Các tài liệu khác trên Internet.

(Bài đăng ấn phẩm in Tạp chí TT&TT số 4 - tháng 4/2021)

TS. Tô Hồng Nam - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo

 

Nguồn: https://ictvietnam.vn/giai-phap-phat-trien-nhan-luc-attt-tai-viet-nam-20210426092017669.htm